Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là gì? Thực trạng ở Việt Nam

Hình thức cho vay ngang hàng – P2P Lending hiện đang là xu hướng thị trường trên phạm vi toàn cầu. hình thức này được cho là mang lại nhiều tiện ích, song cũng tiềm ẩn lắm rủi ro. Để tăng tính an toàn, giảm thiểu rủi ro trong P2P Lending, chúng ta cần tạo ra một sân chơi phù hợp với hành lang pháp lý nhằm đảm bảo lợi ích giữa các bên.

Cho vay ngang hàng là gì?

Cho vay ngang hàng (tiếng Anh là Peer-to-peer Lending, viết tắt là P2P Lending hoặc cho vay P2P), là mô hình cho vay ứng dụng nền tảng công nghệ số mà ở đó, người đi vay và người cho vay sẽ kết nối trực tiếp với nhau và không cần phải thông qua một tổ chức tin dụng hay ngân hàng nào.

Cho vay ngang hàng
Cho vay ngang hàng (P2P lending) giúp kết nối trực tiếp người đi vay và người cho vay

Các công ty cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng thường hoạt động trực tuyến, do đó, có thể giảm thiểu các loại chi phí và cung cấp dịch vụ với mức phí rẻ hơn những tổ chức tài chính truyền thống.

Cho vay ngang hàng đã xuất hiện trên thế giới từ rất sớm, trước cả khi ngân hàng ra đời. Tuy nhiên, khoảng đầu thế kỉ 21 trở lại đây, hình thức này mới thực sự phát triển mạnh, dần trở thành xu thế của thị trường hiên nay.

Một số đặc điểm của cho vay ngang hàng – P2P Lending

  • Khi có nền tảng P2P, nhà đầu tư có thể chọn người vay.
  • Cho vay P2P tạo lợi nhuận cao.
  • Các công ty cho vay P2P sẽ đóng vai trò trung gian, làm cầu nối kết nối mọi người với nhau.
  • Mọi giao dịch đều thực hiện trên nền tảng trực tuyến, điều này giúp mọi việc trở nên nhanh chóng, tiện lợi hơn bao giờ hết chỉ với một vài thao tác.
  • Giữa người cho vay và người vay không nhất thiết phải có mối quan hệ trước đó.
  • Đối với các khoản vay đảm bảo, có thể được chuyển giao cho người khác để thu nợ hoặc làm lợi nhuận.
  • Hình thức này rất phù hợp cho những khoản vay nhỏ và ngắn hạn, mang lại nguồn vốn đầu tư phù hợp cho tầng lớp có thu nhập thấp.
  • Hoạt động dựa trên mô hình đầu tư online giúp người đi vay thuận lợi trong thu hút người cho vay, đồng thời, nhà đầu tư có thể dễ dàng theo dõi nguồn lợi nhuận của mình từ người đi vay.
  • Luôn tuân thủ pháp luật và báo cáo.

Có một thực tế rất rõ ràng là, kể từ khi hệ thống mạng và dịch vụ thương mại điện tử ra đời đã làm cho các dịch vụ truyền thống dần được thay thế bởi các dịch vụ online. Điều này giúp doing nghiệp và khách hàng tiết kiệm cả thời gian lẫn chi phí. Việc mở rộng phát triển điện toán đám đông (crowdsourcing) sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho cả người vay và người đi vay.

Các dịch vụ được cung cấp bởi những công ty cho vay ngang hàng bao gồm

  • Dịch vụ xác định thông tin, nghề nghiệp, tài khoản ngân hàng và thu nhập của khách hàng.
  • Có trách nhiệm xử lý thanh toán từ khách hàng đi vay, đồng thời, chuyển những khoản thanh toán và lợi nhuận cho người đầu tư vào các khoản vay.
  • Phát triển và cung cấp các mô hình tín dụng cho vay tín chấp, quản lý, đánh giá thông tin và xếp hạng tín nhiệm người vay. Việc này được thực hiện dựa trên các hệ thống truyền thông, mạng xã hội, tích hợp trong phần mềm chuyên dụng.
  • Tìm nhà đầu tư và người đi vay mới.

Tiện ích và rủi ro của hình thức cho vay ngang hàng

Tiện ích tuyệt vời của cho vay ngang hàng

  • Thủ tục nhanh chóng, đơn giản, tiết kiệm thời gian và chi phí.
  • Phù hợp với các tổ chức có quy mô nhỏ hoặc cá nhân có thu nhập thấp, giúp họ có thể vai được số vốn nhỏ hoặc thời hạn ngắn.
  • Giảm chi phí cho người đi vay và tăng thu nhập cho người cho vay. Sở dĩ cho vay ngang hàng làm được điều này là bởi các dịch vụ được cung cấp trên nền tảng Fintech, giúp giảm thiểu các chi phí cho xây dựng mạng lưới phân phối và tác nghiệp so với các kênh truyền thống.
  • Tính minh bạch và bảo mật thông tin ở mức độ cao. Người cho vay trực tiếp được tham chiếu những thông tin liên quan đến người đi vay (kể cả trước khi cho vay), đồng thời, người cho vay có thể giám sát mục đích sử dụng tiền vay của người đi vay. Mặt khác, mức độ bảo mật thông tin cũng cao hơn so với các kênh truyền thống bởi P2P Lending sử dụng công nghệ Block Chain để mã hóa thông tin cả hai phía: người đi vay và người cho vay. Các công ty cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng sẽ chịu trách nhiệm bảo mật thông tin cho cả nhà đầu tư và người đi vay.
  • Các nhà đầu tư có cơ hội đa dạng hóa và quản lý rủi ro tốt hơn vì có thể cho vay nhiều món với thời hạn khác nhau. Hoàn toàn không có rủi ro về khe hở kỳ hạn bởi kỳ hạn cho vay và đi vay được khớp với nhau một cách tuyệt đối.
  • Các nhà đầu tư sẽ được cung cấp dịch vụ tư vấn đa dạng, trong nhiều trường hợp, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ đóng vai trò như một đơn vị ủy quyền thu nợ cho nhà đầu tư.

Những rủi ro cần thận trọng đối với cho vay ngang hàng

  • Rủi ro pháp lý: Nhà cung cấp dịch vụ có thể phải đối mặt với rủi ro bị cấm hoạt động hoặc hạn chế hoạt động do ở khá nhiều nước chưa công nhận tính pháp lý của cho vay ngang hàng. Trong trường hợp đó, quyền lợi của nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng và gặp khó khăn trong giải quyết tranh chấp giữa các bên tham gia thị trường do chưa có cơ chế pháp lý.
  • Rủi ro mất vốn hoặc chậm trả: các khoản cho vay của nhà đầu tư sẽ không được bảo hiểm tiền gửi như kênh ngân hàng truyền thống. Do đó, khi người đi vay rơi vào tình trạng không thể hoàn trả được tiền vay vì những lý do khách quan và chủ quan khác nhau thì nhà đầu tư có thể mất vốn hoàn toàn hoặc một phần. Song, nhà cung cấp dịch vụ lại không có trách nhiệm phải đảm bảo hoàn trả tiền vay cho nhà đầu tư.
  • Rủi ro thanh khoản: các khoản vay chỉ có thể được hoàn trả khi đến hạn chứ không thể hủy ngang hợp đồng. Bên cạnh đó, thị trường thứ cấp về các khoản vay ngang hàng hiện vẫn chưa phát triển nên việc chiết khấu hoặc bán lại khoản đầu tư thường không dễ dàng như các công cụ đầu tư truyền thống.
  • Rủi ro vận hành: Nền tảng hoạt động của cho vay ngang hàng là sự phát triển công nghệ, khi phần mềm bị lỗi hoặc ngưng hoạt động (hoặc đơn giản là nhà cung cấp dịch vụ rút khỏi thị trường) thì rủi ro tất sẽ xảy ra. Khi đó, mọi dữ liệu của khách hàng cùng với điều kiện để dịch vụ được cung cấp liên tục đều sẽ bị ảnh hưởng. Nếu thị trường không hoạt động trong khuôn khổ pháp lý thì nhà đầu tư có thể phải đối mặt với nguy cơ bị mất trắng.
  • Rủi ro đạo đức: Nhà cung cấp dịch vụ đóng vai trò trung gian, hoạt động như một tổ chức huy động vốn cộng đồng rồi cho vay. Do đó, hoàn toàn có thể xảy ra tình huống nhà đàu tư mập mờ với vai trò của mình; sử dụng những thông tin thổi phồng để thu hút khách hàng; thông đồng với người đi vay lập hồ sơ giả; sử dụng tiền của nhà đầu tư không đúng với mục đích vay ban đầu; tạo ra khe hở kỳ hạn bằng cách khớp nối kỳ hạn của khoản vay không đúng nguyên tắc; ngầm bắt tay với các kênh tín dụng chính thức nhằm đầu tư mạo hiểm vào thị trường cho vay ngang hàng để ăn chênh lệch… Mọi khả năng này đều có thể xảy ra nếu nhà cung cấp và người đi vay không thực hiện đúng nguyên tắc đạo đức, đặc biệt trong điều kiện hành lang pháp lý chưa rõ ràng và hiểu biết của nhà đầu tư còn hạn chế.

Thực trạng cho vay ngang hàng ở thị trường Việt Nam hiên nay

Tại Việt Nam, sự bùng nổ của các Công ty Công nghệ Tài chính (Fintech) cùng mô hình cho vay ngang hàng bắt đầu từ khoảng năm 2014 với khoảng hơn 40 công ty đang hoạt động. Nổi bật với một số cái tên phổ biến trong hoạt động này như: Tima, fiin, vaymuon,…

Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ thống pháp lý dành cho hoạt động này chưa được hoàn thiện và rõ ràng, từ đó kéo theo nhiều vấn đề phức tạp. Ngân hàng nhà nước (NHNN) cho biết một số công ty cho vay ngang hàng đã xuất hiện những hoạt động biến tướng, vi phạm pháp luật về ngân hàng và tín dụng. Trên thực tế, những công ty nước ngoài có nguồn lực tài chính mạnh có khả năng xảy ra biên tướng nhiều hơn. Trong số hơn 40 công ty cho vay ngang hàng đang hoạt động ở Việt Nam hiện nay, có tới 10 công ty có nguồn gốc từ Trung Quốc và một số công ty từ Indonesia, Singapore.

NHNN khuyến cáo người dân nên cẩn trọng khi tham gia mô hình này. Gần đây, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng cũng đưa ra khuyến cáo người tiêu dùng cần cân nhắc cẩn trọng trước khi cung cấp các thông tin cá nhân để thực hiện đăng ký khoản vay. Đồng thời, phải nghiên cứu kỹ các mục đích sử dụng thông tin khi thực hiện giao dịch cũng như nghiên cứu kỹ nội dung hợp đồng trước khi ký. Đặc biệt, cần cân nhắc các chi phí phải trả khi tham gia vay trực tuyến và yêu cầu phía nhà cung cấp dịch vụ gửi bản sao hợp đồng sau khi ký.

Thực tế, hoạt động cho vay ngang hàng tại Việt Nam đang tồn tại nhiều hạn chế như: quảng cáo không minh bạch về mức lợi nhuận, cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc thiếu chính xác về các rủi ro mà các bên tham gia có thể gặp phải, đưa ra mức lãi suất cao phi thực tế nhằm lôi kéo nhà đầu tư tham gia…

Hơn nữa, trong điều kiện hành lang pháp lý không được đảm bảo như hiện nay, nếu xảy ra tranh chấp trong việc không đòi được các khoản đã cho vay, nhà đầu tư có thể mất tiền mà khó truy đòi trách nhiệm từ các công ty cung ứng dịch vụ cho vay ngang hàng…

Cần phải có khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý rủi ro từ cho vay ngang hàng

Tại Việt Nam, dù hệ thống pháp luật chưa có quy định quản lý riêng nhưng cũng không cấm đối với hoạt động cho vay ngang hàng.

Trước thực trạng và rủi ro do thiếu cơ sở pháp lý của hoạt động này, cần có khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý rủi ro, bảo đảm quyền lợi cho các bên, đặc biệt đặc biệt là quyền lợi hợp pháp của người dân, đảm bảo an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia.

Về mặt pháp luật, đây là loại hình kinh doanh có điều kiện, cần phải được cơ quan nhà nước cấp phép. Do đó, cơ quan quản lý, đứng đầu là NHNN cần nhanh chóng phối hợp với các bộ, ngành như Bộ Khoa học và Công nghệ, Kế hoạch và Đầu tư, Thông tin và Truyền thông, Tài chính, Tư pháp,… liên quan để nghiên cứu, đề xuất xây dựng biện pháp, sớm có khuôn khổ pháp lý phù hợp để quản lý hoạt động cho vay ngang hàng.

Ngoài ra, biện pháp tạm thời được đưa ra là quản lý trong phạm vi cho vay ngang hàng kết nối trực tiếp người vay với người cho vay, chưa mở rộng cho sự tham gia của các tổ chức tài chính, đồng thời không cho phép các công ty cho vay ngang hàng được quyền huy động vốn để cho vay.

Căn cứ theo Điều 8 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010, được bổ sung, sửa đổi năm 2017 quy định: “(1) Tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan được NHNN cấp Giấy phép thì được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. (2) Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”. Như vậy, các tổ chức, cá nhân không được phép lợi dụng các nền tảng cho vay ngang hàng để thực hiện một trong các hoạt động ngân hàng khi chưa được NHNN cấp phép.

Việc nghiên cứu các mô hình cho vay ngang hàng trên thế giới cũng là điều vô cùng cần thiết nhằm học hỏi kinh nghiệm quản lý, giám sát hoạt động này. Từ đó xây dựng khuôn khổ pháp lý tối ưu để phát huy những mặt tích cực của sản phẩm dịch vụ cho vay ngang hàng. Đồng thời, tránh và giảm thiểu các rủi ro cũng như tác động tiêu cực của nó đến các bên tham gia, đảm bảo an toàn cho người dân và doanh nghiệp. Qua đó, giúp thúc đẩy phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam.

Về phía doanh nghiệp và người dân khi tham gia hoạt động này, cần cân nhắc kỹ và tính toán cẩn thận, tìm hiểu kỹ thông tin, thận trọng khi tham gia các nền tảng cho vay ngang hàng để tránh rơi vào hệ lụy của nó cũng như của tín dụng đen…

Cho vay ngang hàng vốn là một hoạt động tài chính rất mới mẻ dựa trên nền tảng phát triển công nghệ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích và thuận tiện của nó mang lại thì cũng tồn tại những rủi ro nhất định. Doanh nghiệp và người dân cần tìm hiểu kỹ mọi thông tin trước khi đưa ra quyết định. Hy vọng bài viết trên đây đã mang đến cho độc giả những thông tin hữ ích!

Add a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *